Tìm kiếm
 
 
Lượt Truy Cập
2,210,744
Luật thi đấu Pencaksilat quốc tế
Các giải thi đấu Pencak Silat quốc tế phải được tiến hành dựa trên những nguyên tắc về tình hữu nghị và sự cao thượng thông qua việc thể hiện nghệ thuật tự vệ, thi đấu và tinh thần thể thao của Pencak Silat cũng như sự tuân thủ và tôn trọng các lời thề của Pencak Sialt.

PHẦN MỞ ĐẦU

Các giải thi đấu Pencak Silat quốc tế phải được tiến hành dựa trên những nguyên tắc về tình hữu nghị và sự cao thượng thông qua việc thể hiện nghệ thuật tự vệ, thi đấu và tinh thần thể thao của Pencak Silat cũng như sự tuân thủ và tôn trọng các lời thề của Pencak Sialt.

Các giải thi đấu Pencak Silat quốc tế phải được tiến hành theo đúng các Điều luật đã được ban hành và tuân thủ nghiêm ngặt các quy định kỹ thuật của từng giải đấu.

Các nội dung thi đấu Pencak Silat bao gồm:

I. Nội dung thi đấu đối kháng (Tanding)

II. Nội dung thi đấu biểu diễn bài quy định cá nhân (Tunggal)

III. Nội dung thi đấu biểu diễn bài đối luyện tự chọn (Ganda)

IV. Nội dung thi đấu biểu diễn bài quy định tập thể (Regu)

Chương I

LUẬT THI ĐẤU

Điều 1. Định nghĩa các nội dung thi đấu

1.1. Thi đấu đối kháng (Tanding) Thi đấu đối kháng (Tanding) là hình thức thi đấi mặt đối mặt giữa hai Pesilat của hai đội khác nhau thông qua việc sử dụng các kỹ thuật tránh né, gạt đỡ, các đòn tay, các đòn chân, đòn đánh ngã.

Trước tiên hai Pesilat phải thực hiện bộ pháp di chuyển, các thế tấn của Pencak Sialt rồi sau đó mới sử dụng các kỹ thuật tấn công, phòng thủ, chiến thuật, sức mạnh và tinh thần thi đấu cao thượng, thân ái để ghi được điểm số tối đa.

1.2. Thi đấu biểu diễn bài quy định cá nhân (Tunggal)

Thi đấu và biểu diễn bài quy định cá nhân (Tunggal) là hình thức thi đấu biểu diễn mà một Pesilat thể hiện kỹ năng của mình thông qua việc thể hiện một cách chính xác, mạnh mẽ và có mức độ biểu cảm cao bài quyền cá nhân do Liên đoàn Pencak Sial Quốc tế quy định. Bài quyền gồm có hai phần: Tay không và binh khí (dao và côn)

1.3. Thi đấu biểu diễn bài đối luyện tự chọn (Ganda)

Thi đấu biểu diễn bài đối luyện tự chọn (Ganda) là hình thức thi đấu bài đối luyện tự chọn của hai Pesilat trong cùng một đội thông qua sự thể hiện một cách phong phú về kỹ thuật tự vệ và tấn công của Pencak Silat. Các đòn thế sử dụng trong bài biểu diễn phải được hai Pesilat quy định trước và phải bảo đảm tính hiệu quả, tính thẩm mỹ cao đồng thời thể hiện được sức mạnh trong từng tổ hợp đòn thế và nhịp điệu của động tác. Bài biểu diễn đối luyện tự chọn cũng gồm có hai phần là kỹ thuật đối luyện tay không và binh khí (dao và côn).

1.4. Thi đấu biểu diễn bài quy định tập thể (Regu)

Thi đấu biểu diễn bài quy định tập thể (Regu) là hình thức thi đấu đồng diễn của một nhóm ba Pesilat trong cùng một đội thông qua việc thể hiện một cách chính xác, mạnh mẽ, có mức độ biểu cảm cao và đồng đều bài quyền tập thể do Liên đoàn Pencak Sialt quốc tế quy định. Bài biểu diễn tập thể này chỉ có phần tay không.

Điều 2 Phân loại các giải thi đấu - quy định về tuổi thi đấu và cân

2.1. Căn cứ vào lứa tuổi và giới tính của VĐV tham dự, giải thi đấu được phân làm hai loại sau:

2.1.1. Giải trẻ giành cho VĐV nam và nữ từ 15 tới 17 tuổi.

2.1.2. Giải vô địch dành cho VĐV nam và nữ từ 17 tới 35 tuổi.

2.2. Độ tuổi của Pencak Silat tham dự được xác định qua hộ chiếu với giải thế giới, thẻ VĐV và giấy khai sinh đối với giải trong nước.

2.3. Tuổi của Pensilat phải phù hợp với quy định về tuổi của Giải thi đấu mà Pesilat đó tham dự. Tuổi của Pesilat được tính tới ngày bắt đầu tổ chức giải có nghĩa là tính đến ngày thi đấu đầu tiên của giải tuổi của Pensilat phải nằm trong độ tuổi quy định từ nhỏ nhất đến lớn nhất của giải đó. Pesilat nào vi phạm quy định về tuổi sẽ bị truất quyền tham dự giải.

2.4. Hình thức phân loại theo hạng cân chỉ áp dụng đối với Nội dung Thi đấu đối kháng.

2.4.1. Lần cân kiểm tra trước giải

2.4.1.1. Lần cân kiểm tra Pesilat trước giải phải được thực hiện tối thiểu là 6 tiếng trước khi bắt đầu giải thi đấu.

2.4.1.2. Tại thời điểm cân, Pesilat phải mặc võ phục khô và không được đeo bất kỳ loại bảo hiểm gì trên cơ thể.

2.4.1.3. Chỉ được phép cân chính thức một lần.

2.4.1.4. Nếu một Pesilat chỉ có số cân trọng lượng cơ thể lớn hơn hoặc nhỏ hơn chỉ số cân quy định của hạng cân thi đấu mà người đó đăng ký tham gia thì Pensilat đó sẽ được phép có thêm 1 tiếng để điều chỉnh trọng lượng trước khi cân kiểm tra lần thứ hai. Khi cân lần thứ hai, Pesilat cũng phải mặc võ phục khô và không được đeo bất kỳ loại bảo hiểm gì trên cơ thể.

2.4.1.5. Việc cân kiểm tra Pesilat phải được tiến hành với sự chứng kiến của thành viên trong Ban trọng tài (người chịu trách nhiệm về cân kiểm tra)

2.4.1.6. Nếu một Pesilat vì một lý do bất khả kháng mà không thể tham gia lần cân kiểm tra trước giải nhưng vẫn đăng ký thi đấu và gắp thăm phân cặp thì có thể chỉ cần tham gia lần cân kiểm tra trước khi thi đấu.

2.4.2. Lần cân kiểm tra trước khi thi đấu:

2.4.2.1. Lần cân kiểm tra Pesilat trước khi thi đấu thực hiện trước khi Pesilat đó bắt đầu trận đấu khoảng 15 phút.

2.4.2.2. Tại thời điểm cân, Pesilat phải mặc võ phục khô và không đeo bất kỳ loại bảo hiểm gì trên cơ thể.

2.4.2.3. Nếu một Pesilat có chỉ số cân trọng lượng cơ thể lớn hơn hoặc nhỏ hơn chỉ số cân quy định của hạng cân thi đấu mà Pesilat đó đăng ký tham gia thì Pesilat đó đã đăng ký tham gia thì Pesilat đó sẽ bị truất quyền thi đấu.

2.4.2.4. Việc cân kiểm tra Pesilat phải được tiến hành với sự chứng kiến của thành viên trong Ban trọng tài (người chịu trách nhiệm về cân kiểm tra).

Điều 3. Các nội dung và hạng cân trong giải vô địch.

Nội dung và hạng đấu trong giải vô địch bao gồm:

3.1. Nội dung thi đấu đối kháng (Tanding) Hạng đấu được phân chia theo giới tính và trọng lượng của Pesilat bao gồm tổng cộng 16 hạng (10 hạng cân nam và 6 hạng cân nữ)

3.1.1. Các hạng cân nam:

Hạng A: từ 45 kg tới 50 kg

Hạng B: từ 50 kg tới 55 kg

Hạng C: từ 55 kg tới 60 kg

Hạng D: từ 60 kg tới 65 kg

Hạng E: từ 65 kg tới 70 kg

Hạng F: từ 70 kg tới 75 kg

Hạng G: từ 75 kg tới 80 kg

Hạng H: từ 80 kg tới 85 kg

Hạng I: từ 85 kg tới 90 kg

Hạng O: từ 90 kg tới 95 kg

3.1.2 Các hạng cân nữ

Hạng A: từ 45 kg tới 50 kg

Hạng B: từ 50 kg tới 55 kg

Hạng C: từ 55 kg tới 60 kg

Hạng D: từ 60 kg tới 65 kg

Hạng E: từ 65 kg tới 70 kg

Hạng F: từ 70 kg tới 75 kg

3.2. Nội dung thi đấu biểu diễn bài quy định cá nhân (Tunggal)

Được phân chia theo giới tính thành 2 hạng:

3.2.1. Thi đấu biểu diễn bài quy định cá nhân của Pesilat nam (Tunggal Putra)

3.2.2. Thi đấu biểu diễn bài quy định cá nhân của Pesialt nữ (Tunggal Putri)

3.3. Nội dung thi đấu biểu diễn bài đối luyện tự chọn (Ganda) Được phân chia theo giới tính thành 2 hạng:

3.3.1. Thi đấu biểu diễn bài đối luyện tự chọn của 2 Pesilat nam (Ganda Putra).

3.3.2. Thi đấu biểu diễn bài đối luyện tự chọn của 2 Pesilat nữ(Ganda Putri)

3.4. Nội dung thi đấu biểu diễn bài quy định tập thể (Regu) Được phân chia theo giới tính thành 2 hạng:

3.4.1. Thi đấu biểu diễn bài quy định tập thể của 3 Pesilat nam (Regu Putra)

3.4.2. Thi đấu biểu diễn bài quy định tập thể của 3 Pesilat nữ (Regu Putri)

Điều 4. Các nội dung và hạng đấu trong giải trẻ

Nội dung và hạng đấu trong giải trẻ bao gồm:

4.1. Nội dung thi đấu đối kháng (Tanding)

Các hạng đấu được phân chia theo giới tính và trọng lượng của Pesilat bao gồm tổng cộng 20 hạng (12 hạng nam và 8 hạng nữ). Tuy nhiên tùy theo từng giải mà số lượng các hạng cân có thể được quyết định khác nhau.

4.1.1. Các hạng cân nam:

Hạng A: từ 39 kg tới 42 kg

Hạng B: từ 42 kg tới 45 kg

Hạng C: từ 45 kg tới 48 kg

Hạng D: từ 48 kg tới 51 kg

Hạng E: từ 51 kg tới 54 kg

Hạng F: từ 54 kg tới 57 kg

Hạng G: từ 57 kg tới 60 kg

Hạng H: từ 60 kg tới 63 kg

Hạng I: từ 63 kg tới 66 kg

Hạng K: từ 66 kg tới 69 kg

Hạng L: từ 69 kg tới 72 kg

Hạng O: từ 72 kg tới 75 kg

4.1.2 Các hạng cân nữ

Hạng A: từ 39 kg tới 42 kg

Hạng B: từ 42 kg tới 45 kg

Hạng C: từ 45 kg tới 48 kg

Hạng D: từ 48 kg tới 51 kg

Hạng E: từ 51 kg tới 54 kg

Hạng F: từ 54 kg tới 57 kg

Hạng G: từ 57 kg tới 60 kg

Hạng H: từ 60 kg tới 63 kg

4.2. Nội dung thi đấu biểu diễn bài quy định cá nhân (Tunggal), nội dung thi đấu biểu diễn bài đối luyện tự chọn (Ganda), nội dung thi đấu biểu diễn bài quy định tập thể (Regu) Hạng đấu trong các nội dung này được phân chia theo giới tính như ở giải vô địch nhưng theo độ tuổi được quy định cho giải trẻ.

Điều 5. Trang thiết bị của sàn đấu

5.1. Võ đài Võ đài phải được đặt trên sàn phẳng, phủ trên mặt sàn đài là một lớp thảm thi đấu có chiều dày tối đa 5 cm, bề mặt nhẵn và không trơn trượt. Mặt thảm được phủ một tấm bạt hình vuông kích thước 10m x 10m có bề mặt nhẵn, không trơn trượt, màu sẫm và không có đường kẻ màu trắng. Ban tổ chức chịu trách nhiệm cung cấp thảm thi đấu cho giải.

5.1.1. Võ đài cho nội dung thi đấu đối kháng

5.1.1.1. Võ đài bao gồm: Thảm đấu hình vuông , kích thước 10m x 10m. Phạm vi thi đấu là một hình tròn nằm trong thảm đấu, đường kính 8m.

5.1.1.2. Đường kẻ phân định phạm vi thi đấu có mầu trắng chiều rộng 5cm.

5.1.1.3. Tại giữa tâm của thảm đấu là một vòng tròn đường kính 3m, đường kẻ màu trắng rộng 5m là khoảng cách giữa hai Pesilat khi bắt đầu trận đấu.

5.1.1.4. Các góc của Pesilat là phần diện tích nằm trong hình vuông thảm đấu và nằm ngoài phạm vi thi đấu, đối diện theo đường chéo hình vuông.

Các góc đó bao gồm:

- Góc xanh nước biển sẫm: Là góc nằm ở phía phải bàn của Chủ tịch cuộc đấu.

- Góc đỏ: Là góc nằm ở phía đối diện theo đường chéo của góc xanh.

- Góc trắng: Là hai góc còn lại, được gọi là góc trung lập (Hình 1 - Sơ đồ bố trí võ đài thi đấu - Pencak Silat)

 Hình 1 - Sơ đồ bố trí võ đài thi đấu - Pencak Silat

 5.1.2. Võ đài cho nội dung thi đấu biểu diễn bài quy định cá nhân, bài đối luyện tự chọn, bài quy định tập thể: Là toàn bộ phần võ đài hình vuông 10m x 10m như trong nội dung thi đấu đối kháng đã đề cập ở trên.

5.2. Trang bị sàn đấu (Hình 2a, b)

Trang bị sàn đấu do Ban tổ chức cung cấp bao gồm:

5.2.1. Bàn ghế cho Ban tổ chức.

5.2.2. Bàn ghế cho Ban trọng tài và các thành viên khác, cho Hội đồng kỹ thuật, bác sỹ, tổ y tế.

5.2.3. Đồng hồ, cồng hoặc trang bị khác có chức năng tương tự, còi và chuông báo.

5.2.4. Đèn hiệu, báo hiệp hoặc các thiết bị tương tự.

5.2.5. Đèn mầu đỏ, xanh, vàng dùng để thông báo khi cần thiết.

5.2.6. Mười lá cờ nhỏ kích thước 30 x 30cm, mầu đỏ, xanh cho các Jury và hai lá cờ màu vàng cho Trọng tài thời gian và cho Trọng tài cuộc đấu.

5.2.7. Bảng ghi thời gian biểu diễn các bài quy định cá nhân, bài đối luyện tự chọn, bài quy định tập thể của các Pesilat tham gia.

 Hình 2a Trang bị võ đài

 

 Hình 2b: Các loại đèn sử dụng trong thi đấu

5.2.8. Giá để binh khí biểu diễn.

5.2.9. Bảng điểm

5.2.10. Cân kiểm tra trọng lượng VĐV.

5.2.11. Bảng hiệu ghi tên các Hội đồng, Ban của cuộc đấu, Chủ tịch cuộc đấu, Ban trọng tài, Ban thư ký, trọng tài thời gian, Bác sỹ, Jury từ số 1 đến số 5.

5.2.12. Hệ thống phát thanh.

5.2.13. Các trang bị khác

Điều 6. Luật thi đấu đối kháng

6.1. Trang bị thi đấu

6.1.1. Trang phục Pesilat tham gia nội dung thi đấu đối kháng phải mặc trang phục thi đấu theo mẫu tiêu chuẩn đã được quy định của Pencak Silat quần áo mầu đen, thắt đai trắng. Khi thi đấu, đai trắng sẽ phải cởi ra. Phù hiệu của tổ chức Pencak Silat cấp quốc gia (hay cấp địa phương) được gắn trên ngực trái, tên quốc gia (hay tên đội) được in ở lưng áo. Ngoài các quy định về phục trang trên, Pesilat không được mặc bất kỳ một loại trang phục nào khác (Hình 3)

6.1.2. Giáp bảo vệ thân thể tuân theo các quy định sau:

6.1.2.1. Theo đúng mẫu quy định của Liên đoàn Pencak Silat quốc tế

6.1.2.2. Mầu đen sẫm

6.1.2.3. Giáp có bốn cỡ: Nhỏ, trung bình, lớn và rộng.

 Hình 3 - Trang phục thi đấu đối kháng (Tanding)

6.1.2.4. Đai màu đỏ và đai màu xanh nước biển sẫm cho hai Pesilat ở hai góc đài tương ứng.

6.1.2.5. Mỗi giải thi đấu phải có tối thiểu 5 áo giáp cho mỗi cỡ.

6.1.2.6. Ban tổ chức có trách nhiệm cung cấp giáp thi đấu cho giải (Hình 4 - Giáp thi đấu)

 Hình 4 - Giáp thi đấu

6.1.3. Các Pesilat phải đeo bảo hiểm hạ bộ

6.1.4. Các Pesilat được phép mang một lớp băng bảo vệ khớp (đầu gối, cùi tay, cổ tay, cổ chân) loại mỏng, có khả năng co dãn. Nếu băng bảo vệ không theo quy định trên thì phải có sự xem xét và đồng ý của bác sỹ cuộc đấu.

6.2. Các vòng đấu: Các giải thi đấu sẽ được chia làm các vòng: vòng đấu loại, vòng tứ kết, vòng bán kết, vòng chung kết cho tất cả các hạng cân thi đấu, tuỳ theo số lượng Pesilat tham gia.

6.3. Thời gian của trận đấu 6.3.1. Các trận đấu sẽ được tiến hành trong ba hiệp

6.3.2. Mỗi hiệp sẽ có thời gian hai phút

6.3.3. Thời gian nghỉ giữa hai hiệp là một phút

6.3.4. Thời gian trọng tài dừng trận đấu không được tính vào thời gian thi đấu

6.3.5. Thời gian trọng tài đếm tuyệt đối hay đếm kỹ thuật không được tính vào thời gian thi đấu

6.4. Chỉ đạo viên và săn sóc viên:

6.4.1. Mỗi Pesilat khi tham gia thi đấu được phép có hai người làm công tác săn sóc, chỉ đạo. Trong số đó được phép có huấn luyện viên.

6.4.2. Chỉ đạo viên và săn sóc viên cũng phải mặc quần áo thi đấu theo mẫu tiêu chuẩn đã được quy định của Pencak Silat có mầu đen, thắt đai màu da cam rộng 10cm, có phù hiệu của Tổ chức Pencak Silat cấp quốc gia (hay cấp địa phương được gắn trên ngực trái, tên quốc gia (hay tên đội) được in ở lưng áo (Hình 5 - Trang phục của HLV và săn sóc viên)

 Hình 5 - Trang phục của HLV và săn sóc viên

6.4.3. Chỉ đạo viên được phép chỉ đạo Pesilat trước thi đấu và trong thời gian nghỉ giữa hai hiệp

6..4.4. Chỉ đạo viên không được phép

- Dùng lời nói chỉ đạo Pesilat khi đang thi đấu.

- Đứng hoặc ngồi không đúng tư thế cho phép.

- Hò hét, cổ vũ, vỗ tay khi Pesilat đang thi đấu.

- Mang rượu hay các chất kích thích cho Pesilat sử dụng để thi đấu

- Mang trang phục không đúng quy định

- Vào trong phạm vi thi đấu khi chưa có sự đồng ý của Trọng tài đài

- Chụp ảnh, quay video khi Pesilat đang thi đấu.

6.4.5. Chỉ có một chỉ đạo viên (hoặc săn sóc viên) được phép vào trong thảm đấu (tại góc của Pesilat) khi Pesilat nghỉ thi đấu giữa hai hiệp.

6.4.6. Trong số Chỉ đạo viên và săn sóc viên phải có một người cùng giới tính với Pesilat.

6.5. Thủ tục tiến hành trận đấu

6.5.1. Một trận đấu được bắt đầu khi tổ trọng tài bao gồm một Trọng tài đài và năm giám định tiến vào khu vực thi đấu từ phía tay phải của Chủ tịch cuộc đấu.

Tổ trọng tài phải làm thủ tục chào, báo cáo và tuyên thệ trước khi làm nhiệm vụ. Sau đó các trọng tài vào vị trí làm việc (Hình 6 - Vị trí của trọng tài, giám định trong nội dung Tanding)

 

 Hình 6 - Vị trí của trọng tài, giám định trong nội dung Tanding

6.5.2. Khi có dấu hiệu mời vào của trong tài đài, Pesilat phải chào chủ đạo viên và săn sóc viên rồi đi vào trong thảm đấu từ phía góc của mình. Khi đến trung tâm của vòng tròn thi đấu, Pesilat phải chào trọng tài đài rồi chào Chủ tịch cuộc đấu. Sau khi biểu diễn bài xe đài, Pesilat trở về góc đài của mình.

6.5.3. Để bắt đầu trận đấu, trọng tài đài gọi hai Pesilat vào trong thảm kiểm tra, nhắc nhở, cho hai Pesilat bắt tay nhau và vào vị trí sẵn sàng thi đấu.

6.5.4. Sau khi ra ký hiệu cho các thành viên của cuộc đấu (Chủ tịch cuộc đấu, Ban trọng tài, trọng tài thời gian, bác sỹ, năm giám định), trọng tài đài sẽ ra ký hiệu và khẩu lệnh cho trận đấu bắt đầu.

6.5.5. Trong thời gian nghỉ giữa hai hiệp, Pesilat phải trở về góc đài của mình để cho chỉ đạo viên và săn sóc viên thực hiện nhiệm vụ của họ theo điều 6 mục 4 đã nêu trên.

6.5.6. Trừ trọng tài và hai Pesilat, không ai được phép vào trong thảm thi đấu khi chưa có yêu cầu của trọng tài đài.

6.5.7. Sau khi hiệp cuối cùng kết thúc, hai Pesilat trở về góc đài của mình, đợi công bố kết quả người thắng cuộc. Khi công bố kết quả người thắng cuộc, trọng tài đài sẽ gọi hai Pesilat vào trong trung tâm thảm và tên người thắng cuộc được thông báo trên loa và bằng đèn hiệu, trọng tài đài sẽ dơ cao tay người thắng cuộc.

6.5.8. Sau khi công bố người thắng cuộc, hai Pesilat bắt tay nhau, rời khỏi võ đài. Tổ trọng tài sẽ rời võ đài sau cùng và cùng nhau xếp hàng trước mặt Chủ tịch cuộc đấu, báo cáo về việc hoàn thành nhiệm vụ và chào Chủ tịch cuộc đấu rồi về vị trí tập trung cho các trọng tài.

6.6. Luật thi đấu

6.6.1. Nguyên tắc thi đấu:

6.6.1.1. Hai Pesilat phải mặt đối mặt với nhau và sử dụng các kỹ thuật tấn công và phòng thủ của Pencak Silat, bao gồm các đòn tay, đòn chân, đòn đánh ngã, tuân thủ nguyên tắc thi đấu Pencak Silat và không vi phạm các điều luật cấm trong thi đấu. Việc tuân thủ nguyên tắc thi đấu Pencak Silat nhằm đảm bảo tính đặc trưng và truyền thống của hoạt động thi đấu với nội dung chủ yếu là tuân thủ nghiêm ngặt trình tự kỹ thuật trong thi đấu.

Mỗi một đợt tấn công, phòng thủ đều phải thực hiện từ tư thế lập tấn, di chuyển tiếp cận theo đúng các tư thế và bước tấn đã được quy định của Pencak Silat; sau đó ra đòn tấn công, phòng thủ trên thế tấn vững vàng, có chủ đích; sau khi tấn công, phòng thủ, Pesilat phải di chuyển quay về vị trí ban đầu với tư thế lập tấn.

6.6.1.2. Từ vị trí lập tấn ban đầu, để tiếp cận đối phương, ra đòn tấn công, phòng thủ, mỗi Pesilat phải di chuyển theo các bước tấn đã được định trước với tối thiểu là 3 bước tấn khác nhau, rồi ra đòn tấn công, phòng thủ, Pesilat phải trở về vị trí lập tấn ban đầu bằng các bước tấn quy định.

Nếu Pesilat nào khi di chuyển không tuân thủ theo các bước tấn quy định bắt buộc quy định này, trọng tài đài sẽ dùng khẩu lệnh “Langka” để nhắc nhở, khiển trách hoặc cảnh cáo (Hình 7).

6.6.1.3. Mỗi loạt đòn tấn công phải đúng luật, hợp lệ và sử dụng các kỹ thuật khác nhau để tấn công vào đích với tối đa là 4 đòn. Nếu một Pesilat trong một loạt đòn tấn công đánh quá 4 đòn thì trọng tài đài sẽ dừng cuộc nhắc nhở.

Các kiểu đòn tấn công (đòn tay hoặc đòn chân) giống nhau lặp lại liên tục trong một loạt đòn tấn công đánh quá 4 đòn thì trọng tài đài sẽ dừng cuộc và nhắc nhở. Các kiểu đòn tấn công (đòn tay hoặc đòn chân) giống nhau lặp lại liên tục trong một loạt 4 đòn thì sẽ chỉ được tính cho một lần tấn công. (Hình 7 – Các bước tấn di chuyển mẫu của Pencak Silat)

 

 Hình 7 - Các bước tấn di chuyển mẫu của Pencak Silat

6.6.1.4. Đòn tấn công hiệu quả được tính điểm là đòn đánh có kỹ thuật với một thế tấn rõ ràng (thuộc các thế tấn quy định của Pencak Silat), có biên độ, rõ nét, có sức mạnh, không bị gạt đỡ, né tránh, hoá giải, trúng đích hợp lệ, được thực hiện trước lệnh BERHENTI, sau khẩu lệnh MULAI và không vi phạm nguyên tắc 4 đòn.

6.6.2. Khẩu lệnh trọng tài đài:

- Khẩu lệnh BERSEDIA (sẵn sàng) dùng để nhắc nhở các Pesilat, các giám định và thành viên cuộc đấu chuẩn bị cho trận đấu bắt đầu.

- Khẩu lệnh MULAI (bắt đầu) dùng để bắt đầu hay tiếp tục trận đấu, kèm theo khẩu lệnh có một ký hiệu.

- Khẩu lệnh BERHENTI (ngừng) dùng để chỉ trận đấu.

- Khẩu lệnh PASANG (lập thế) dùng để nhắc nhở các Pesilat lập thế.

- Khẩu lệnh SILAT dùng để nhắc nhở Pesilat về luật tấn công 4 đòn

- Ngoài các khẩu lệnh trên, khi bắt đầu và kết thúc mỗi hiệp có một tiếng cồng báo hiệu

6.6.3. Đích tấn công hợp lệ Đích tấn công hợp lệ được phép tính điểm là phần cơ thể được che bởi giáp thi đấu trừ cổ và hạ bộ, bao gồm:

- Phần ngực

- Bụng

- Sườn bên phải và trái

- Phần lưng. Tay và chân có thể là đích tấn công hợp lệ để đánh ngã đối phương nhưng không được tính điểm như đánh trúng giáp. (Hình 8 – Đích tấn công hợp lệ)

 

 Hình 8 - Đích tấn công hợp lệ

6.6.4. Các trường hợp phạm luật Các trường hợp phạm luật được chia thành ra thành các mức độ sau:

6.6.4.1. Phạm luật nặng

6.6.4.1.1. Không sử dụng đúng các bước tấn công quy định và không tuân thủ nguyên tắc thi đấu Pencak Silat.

6.6.4.1.2. Tấn côngHình 2b: Các loại đèn sử dụng trong thi đấucơ thể (đầu, cổ, hạ bộ) gây chấn thương cho đối phương.

6.6.4.1.3. Tấn công trực tiếp vào các khớp xương.

6.6.4.1.4. Ném đối phương ra khỏi đài một cách có chủ ý.

6.6.4.1.5. Tấn công, ra đòn bằng đầu

6.6.4.1.6. Tấn công đối phương trước lệnh MULAI sau lệnh BERHENTI của trọng tài đài, gây chấn thương cho đối phương.

6.6.4.1.7. Vật, cắn, cào, xé, túm tóc đối phương

6.6.4.1.8. Thách thức, chửi bới, thoá mạ, la hét trên đài đấu.

6.6.4.1.9. Tiếp tục phạm luật sau khi trọng tài đài nhắc nhở, khiển trách

6.6.4.2. Phạm luật nhẹ

6.6.4.2.1. Liên tục di chuyển ra khỏi thảm đấu

6.6.4.2.2. Ôm ghì đối phương trong quá trình thi đấu

6.6.4.2.3. Không sử dụng kỹ thuật Pencak Silat

Hình 2a Trang bị võ đài tắc thi đấu (khoản 6, mục 6.1)

6.6.4.2.5. Trong quá trình thi đấu, liên lạc với người bên ngoài bằng lời nói hay ký hiệu

6.6.4.2.6. Đem sử dụng các vật cấm vào sàn đấu

6.6.4.2.7. Không tích cực thi đấu hoặc có ý định kéo dài thời gian

6.6.4.2.8. Cố ý phạm luật

6.6.5. Lỗi kỹ thuật phòng thủ:

6.6.5.1. Nếu một đòn tấn công có kỹ thuật, hợp lệ nhằm ghi điểm nhưng gây chấn thương cho đối phương do trong khi đòn tấn công đó được thực hiện, đối phương đã sử dụng kỹ thuật phòng thủ sai, thì đòn tấn công đó không bị coi là phạm luật.

6.6.5.2. Nếu một Pesilat bị trúng đòn như trên và bị chấn thương, trọng tài đài sẽ gọi bác sỹ vào kiểm tra. Nếu bác sỹ quyết định là Pesilat đó không thể tiếp tục thi đấu được thì Pesilat đó sẽ bị xử thua kỹ thuật.

6.6.5.3. Nếu một Pesilat bị trúng đòn như trên và bị ngã không thể đứng dậy để thi đấu được, trọng tài đài sẽ tiến hành đếm kỹ thuật. Nếu trọng tài đài đếm đến 10 mà Pesilat đó không đứng dậy được thì Pesilat đó sẽ bị xử thua kỹ thuật.

6.6.6. Các mức phạt

6.6.6.1. Khiển trách Khiển trách được áp dụng để phạt và trừ điểm khi Pesilat phạm luật nhẹ. Khiển trách có giá trị trong từng hiệp

6.6.6.2. Cảnh cáo: Cảnh cáo có giá trị trong toàn trận và có hai mức.

6.6.6.2.1. Cảnh cáo lần thứ nhất: Được áp dụng để phạt và trừ điểm Pesilat khi:

- Phạm luật nặng.

- Tiếp tục phạm luật nhẹ và bị khiển trách lần thứ ba Sau khi bị cảnh cáo lần thứ nhất, nếu Pesilat lại phạm lỗi nhẹ thì sẽ bị khiển trách.

6.6.6.2.2. Cảnh cáo lần thứ hai: Được áp dụng để phạt và trừ điểm khi Pesilat tiếp tục phạm lỗi sau khi bị cảnh cáo lần thứ nhất.

6.6.6.2.3. Truất quyền: Pesilat bị truất quyền khi

6.6.6.2.3.1. Tiếp tục bị cảnh cáo sau khi đã bị cảnh cáo lần thứ hai.

6.6.6.2.3.2. Cố ý phạm luật nặng, đi ngược lại nguyên tắc thi đấu thể thao.

6.6.6.2.3.3. Làm đối phương bị chấn thương không thể tiếp tục thi đấu theo quyết định của Bác sỹ cuộc đấu.

6.6.6.2.3.4. Ở lần cân lại trước khi thi đấi 15 phút, chỉ số cân nặng không phù hợp với hạng cân đã đăng ký.

6.6.7. Điểm thi đấu:

6.6.7.1. Cách tính điểm thi đấu

Điểm 1: Đòn tấn công bằng tay trúng đích hợp lệ vào giáp đối phương mà không bị gạt đỡ, né tránh hay hoá giải.

Điểm 1 + 1: Tránh né, gạt đỡ, hoá giải thành công đòn tấn công của đối phương và lập tức phản công lại bằng đòn tay trúng đích hợp lệ vào giáp đối phương mà không bị gạt đỡ, né tránh, hoá giải.

Điểm 2: Đòn tấn công bằng chân trúng đích hợp lệ vào giáp đối phương mà không bị gạt đỡ, né tránh, hoá giải.

Điểm 1 + 2: Tránh né, gạt đỡ, hoá giải thành công đòn tấn công của đối phương và lập tức phản công lại bằng đòn chân trúng đích hợp lệ vào giáp đối phương mà không bị gạt đỡ, né tránh, hoá giải. Điểm 3: Đòn tấn công đánh ngã đối phương hợp lệ.

Điểm 1 + 3: Tránh né, gạt đỡ, hoá giải thành công đòn tấn công của đối phương và lập tức phản công đánh ngã đối phương hợp lệ.

6.6.7.2. Các căn cứ để tính điểm thi đấu: Đòn phản công thành công

- Đòn gạt đỡ, phản công thành công là một tổ hợp kỹ thuật của Pesilat bao gồm đòn gạt đỡ thành công đòn tấn công của đối phương bằng kỹ thuật tự vệ và liền sau đó phản công trúng đích hợp lệ vào giáp đối phương mà không bị gạt đỡ, né tránh, hoá giải hoặc phản công đánh ngã đối phương.

- Đòn né tránh, phản công thành công là một tổ hợp kỹ thuật của Pesilat bao gồm kỹ thuật tránh né thành công đòn tấn công của đối phương và liền sau đó phản công trúng đích hợp lệ vào giáp đối phương mà không bị gạt đỡ, né tránh, hoá giải hoặc phản công đánh ngã đối phương.

- Đối với những đòn nêu trên, Pesilat sẽ được tính điểm 1+ (điểm cho kỹ thuật gạt đỡ, né tránh và phản đòn thành công), tuỳ theo đòn phản công trúng đích liền sau đó là loại đòn gì (1 + 1, 1 + 2, 1 +3)

6.6.7.2.2. Đòn tay và đòn chân tấn công thành công: Đòn tay và đòn chân tấn công thành công là đòn tấn công bằng tay, bằng chân trúng đích hợp lệ vào giáp đối phương mà không bị gạt đỡ, né tránh, chặn đỡ và đòn đánh đủ mạnh, rõ nét, có biên độ và trên thế tấn rõ ràng.

6.6.7.2.3. Đòn đánh ngã hợp lệ: Đòn đánh ngã được công nhận khi Pesilat ra đòn đánh ngã hợp lệ làm cho đối phương có điểm thứ ba chạm thảm ngoài hai bàn chân (tính từ đầu gối trở lên). Đòn đánh ngã hợp lệ được xác định theo các tiêu chí sau:

6.6.7.2.3.1. Đòn đánh ngã là các đòn tấn công trực tiếp, đòn đá quét, đòn bốc ngã, đòn bắt chân đánh ngã, đòn cắt kéo và các kỹ thuật tấn công hợp lệ khác.

6.6.7.2.3.2. Khi thực hiện đòn đánh ngã đối phương Pesilat không được ngã theo đối phương hay bị ngã đè lên đối phương.

6.6.7.2.3.3. Nếu đòn đánh ngã có sử dụng kỹ thuật bắt tóm chân hay ôm thân đối phương thì kỹ thuật đó phải là loại kỹ thuật tự vệ phòng thủ (không được tấn công bằng cách bắt tóm chân hay ôm thân đối phương) và sau đó chỉ được phép thực hiện các đòn tỳ, đẩy, vít, xoay, hất để đánh ngã đối phương mà không được ra đòn tấn công trực tiếp khi còn đang bắt tóm chân hay ôm thân đối phương. Việc thực hiện các đòn đánh ngã có sử dụng kỹ thuật bắt tóm chân hay ôm thân đối phương nói trên chỉ được phép diễn ra trong khoảng thời gian đó, đòn đánh ngã chưa thực hiện trên chỉ được phép diễn ra trong khoảng thời gian 3 giây. Nếu trong khoảng thời gian đó, đòn đánh ngã chưa thực hiện được thì trọng tài sẽ dừng cuộc và không công nhận đòn đánh ngã.

6.6.7.2.3.4. Khi thực hiện các kỹ thuật đá quét, cài móc chân, bốc ngã, cắt kéo để đánh ngã đối phương không được phép dùng tay kéo, vật đối phương mà chỉ được sử dụng các kỹ thuật đẩy, tỳ, vít, xoay, hất. Đòn đá quét được phép thực hiện trong tư thế chủ động ngã người quét (đòn đá quét trước và quét sau). Nếu Pesilat ở thế chủ động thoát, tránh khỏi đòn đá quét của đối phương thì cũng không được phép ra đòn phản công.

6.6.7.2.3.5. Hai đòn tấn công cùng một lúc: Trường hợp có hai đòn tấn công hợp lệ cùng một lúc của hai Pesilat và một hay cả hai Pesilat đều bị ngã ra do bị đau thì đòn đánh ngã sẽ được công nhận và việc xử lý tình huống sẽ được thực hiện như sau:

6.6.7.2.3.5.1. Nếu có một Pesilat không đứng dậy được, trọng tài sẽ đếm tuyệt đối Pesilat đó.

6.6.7.2.3.5.2. Nếu cả hai Pesilat đều không đứng dậy được, trọng tài đài sẽ đếm tuyệt đối cả hai Pesilat, Pesilat nào dậy trước sẽ thắng cuộc.

6.6.7.2.3.5.3. Nếu cả hai Pesilat đều không dậy được thì người thắng cuộc sẽ được xác định bằng cách cộng phiếu điểm thi đấu tại thời điểm đó của hai Pesilat, ai có tổng điểm cao hơn sẽ thắng cuộc.

6.6.7.2.3.5.4. Nếu hai Pesilat mới thi đấu hiệp đầu tiên, chưa ai ghi được điểm thì trận đấu sẽ được hoãn và tổ chức lại.

6.6.7.2.3.6. Trường hợp tự ngã: Trong trường hợp một Pesilat ngã ra khi không có đòn tấn công của đối phương và không đứng dậy tiếp tục thi đấu được thì trọng tài đài sẽ đếm đến 10. Nếu vẫn không đứng dậy thi đấu được thì Pesilat đó sẽ thua kỹ thuật.

6.6.7.2.3.7.1. Khi một Pesilat thực hiện kỹ thuật bắt tóm chân đối phương để đánh ngã, đòn đánh ngã sẽ không được công nhận trong các trường hợp sau:

- Đối phương ôm, giữ tay, vai, thân người nên đòn đánh ngã không thực hiện được

- Thời gian thực hiện đòn, đánh ngã quá bay giây.

- Pesilat khi đánh ngã đối phương thì bị ngã theo đối phương.

- Đối phương được phép ra đòn phản công trong tư thế bị tóm bắt.

6.6.7.2.3.7.2. Trong lúc một Pesilat thực hiện kỹ thuật bắt tóm chân đối phương để đánh ngã, đối phương thành công nhưng bị đối phương ôm cổ, đầu kéo xuống thì đòn đánh ngã đó được công nhận và Pesilat phạm lỗi kéo cổ, đầu sẽ bị phạt. Tuỳ theo mức độ phạm lỗi mà mức phạt có thể là khiển trách hoặc cảnh cáo. Nếu một Pesilat trong khi thực hiện kỹ thuật đánh ngã đối phương bị đối phương ôm cổ, đầu kéo xuống và ngã theo đối phương thì đòn đánh ngã đó không được công nhận và Pesilat phạm lỗi kéo cổ, đầu sẽ bị phạt. Tuỳ theo mức độ phạm lỗi mà mức phạt có thể là khiển trách hoặc cảnh cáo.

6.6.7.2.3.8. Đòn ngã ngoài khu vực thi đấu:

6.6.7.2.3.8.1. Đòn đánh ngã được xác định là ngoài khu vực thi đấu nếu như điểm chạm thứ ba ngoài hai bàn chân của Pesilat bị ngã nằm ở ngoài hoặc trên vạch thi đấu. Đòn đánh ngã này không được công nhận.

6.6.7.2.3.8.2. Nếu đòn đánh ngã thực hiện trong khu vực thi đấu, tức là điểm chạm thứ ba ngoài hai bàn chân của Pesilat bị ngã nằm ở trong vạch thi đấu, rồi sau đó Pesilat ngã ra ngoài vạch, thì đòn đánh ngã này vẫn được công nhận.

6.6.7.2.3.8.3. Trong trường hợp một đòn đánh ngã hợp lệ làm một Pesilat bị ngã trong vạch và không đứng dậy được nhưng bị choáng váng không thể thi đấu được thì trọng tài đài sẽ tiến hành đếm tuyệt đối Pesilat đó. Nếu đếm đến 10 mà Pesilat đó vẫn không thể tiếp tục thi đấu được thì Pesilat đó sẽ thua tuyệt đối, còn nếu đếm đến 10 mà Pesilat đó lại có thể tiếp tục thi đấu được thì Pesilat đó bị coi là bị đánh ngã và đòn đánh ngã của đối phương sẽ được công nhận.

6.6.7.3. Điểm phạt:

Điểm phạt gồm các loại sau:

6.6.7.3.1. Điểm -1 (trừ 1 điểm) dùng để trừ điểm khi Pesilat bị khiển trách lần thứ nhất.

6.6.7.3.2. Điểm –2 (trừ 2 điểm): dùng để trừ điểm khi Pesilat bị khiển trách lần thứ hai.

6.6.7.3.3. Điểm -5 (trừ 5 điểm): dùng để trừ điểm khi Pesilat bị cảnh cáo lần thứ nhất

6.6.7.3.4. Điểm -10 (trừ 10 điểm): dùng để trừ điểm khi Pesilat bị cảnh cáo lần thứ hai.

6.6.7.4. Cách xác định người thắng cuộc. Người thắng cuộc được xác định theo các hình thức sau: 6.6.7.4.1.

Thắng điểm:

6.6.7.4.1.1. Sau 3 hiệp đấu, Pesilat nào có số lượng giám định cho thắng nhiều hơn là người thắng cuộc (số lượng lớn hơn một). Các giám định xác định người thắng cuộc thông qua tổng số điểm đạt được cao hơn sẽ thắng.

6.6.7.4.1.2. Trường hợp tổng điểm bằng nhau, Pesilat nào có tổng điểm phạt ít hơn sẽ thắng.

6.6.7.4.1.3. Trong trường hợp tổng điểm phạt bằng nhau, Pesilat nào có số điểm thi đấu hiệu quả cao hơn, Pesilat đó sẽ thắng.

Thứ tự: điểm 1 + 3, điểm 3, điểm 1 + 2, điểm 2, điểm 1 + 1 và điểm 1.

6.6.7.4.1.4. Trong trường hợp số điểm thi đấu hiệu quả cao vẫn bằng nhau thì đấu hiệp thêm 1 hiệp phụ.

6.6.7.4.1.5. Nếu như kết quả của hiệp quyết đấu vẫn bằng nhau, sẽ tiến hành cân kiểm tra, Pesilat nào nhẹ hơn thì Pesilat đó thắng cuộc.

6.6.7.4.1.6. Nếu như kết quả cân kiểm tra như nhau, Chủ tịch cuộc đấu sẽ xác định người thắng cuộc bằng cách cho gắp thăm có sự chứng kiến của hai lãnh đội của hai Pesilat đó.

6.6.7.4.1.7. Điểm thi đấu trong từng hiệp của từng Giám định sẽ được công bố trên bảng điểm sau khi hiệp đấu kết thúc.

6.6.7.4.2. Thắng kỹ thuật:

6.6.7.4.2.1. Khi một Pesilat không có khả năng tiếp tục thi đấu theo yêu cầu hay từ chối thi đấu.

6.6.7.4.2.2. Theo quyết định của Bác sỹ cuộc đấu.

6.6.7.4.2.3. Theo quyết định của Chỉ đạo viên tung khăn xin thua.

6.6.7.4.2.4. Theo quyết định của Trọng tài đài (các trường hợp đếm)

6.6.7.4.3. Thắng tuyệt đối: Thắng tuyệt đối không được xác định khi một Pesilat bị trúng đòn hợp lệ không có khả năng tiếp tục thi đấu (bị ngã không dậy được hay bị choáng). Trọng tài đài đếm đến 10 mà vẫn không tiếp tục thi đấu được.

6.6.7.4.4. Thắng ngừng cuộc vì chênh lệch (WMP) Khi trận đấu diễn ra giữa hai Pesilat có trình độ chênh lệch rõ rệt.

6.6.7.4.5. Thắng vắng mặt (WO): Trong trường hợp một Pesilat vắng mặt không tham gia thi đấu sau 3 lần gọi của Ban tổ chức.

6.6.7.4.6. Thắng truất quyền (DIS):

Thắng truất quyền được xác định khi:

6.6.7.4.6.1. Một Pesilat bị cảnh cáo lần thứ 3 sau khi đã bị cảnh cáo lần thứ 2.

6.6.7.4.6.2. Một Pesilat có thể bị truất quyền thi đấu ngay nếu như vi phạm luật nặng, đi ngược lại tinh thần thể thao.

6.6.7.4.6.3. Một Pesilat phạm luật nặng làm cho đối phương bị thương, bác sỹ xác định là không thể thi đấu được.

6.6.7.4.6.4. Trước khi thi đấu 15 phút chỉ số cân kiểm tra không phù hợp với hạng cân đăng ký. 

Các tin mới hơn
Các tin cũ hơn
Luật thi đấu môn Quần vợt (26/05/2012)
Luật thi đấu môn Cầu Lông (26/05/2012)
Luật Bóng bàn (25/05/2012)
Luật thi đấu môn bóng đá mini (24/05/2012)